Thương hiệu nổi tiếng quốc gia

Bệnh còi xương ở trẻ em

Bệnh còi xương có thể định nghĩa là một bệnh lý phát triển của bộ xương, ảnh hưởng đến chiều cao của trẻ em trong thời kỳ tăng trưởng. Trong giai đoạn này, khi một trẻ bị còi xương thì mô hình sụn tiếp tục phát triển nhưng không gắn được phosphat calci nên xương không cứng, không dài ra được và sẽ xuất hiện đầy đủ các triệu chứng sau đây: Thường thấy ở những trẻ thiếu vitamin D (cũng có khi thiếu cả Ca và P) do ở trong nhà ít được cho ra ánh sáng thiên nhiên, với những dấu hiệu chậm phát triển chủ yếu trên bộ xương, nhưng cũng ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe tổng quát.

Nguyên nhân

–  Thiếu ánh sáng mặt trời: Nhiều trẻ bị còi xương chỉ vì cha mẹ giữ gìn quá kỹ hoặc không có điều kiện cho tắm nắng (do yếu tố địa lý khí hậu, mùa đông, vùng núi sương mù, nhà ở chật chội, ô nhiễm môi trường…).

–  Tình trạng thiếu hụt nặng vitamin D của người mẹ trong thời gian mang thai: Điều này có thể phá vỡ cân bằng canxi nội mô ở bào thai và gây rối loạn quá trình khoáng hóa xương, dẫn đến còi xương từ trong bào thai. Hàm lượng vitamin D trong sữa mẹ thấp, nên trẻ sơ sinh chủ yếu dựa vào lượng vitamin D dự trữ thu được qua rau thai để đáp úng nhu cầu cơ thể. Vì vậy, việc người mẹ thiếu vitamin D trong thời gian mang thai là yếu tố nguy cơ cao gây còi xương sớm ở trẻ sơ sinh.

–   Chế độ ăn của trẻ thiếu cả vitamin D và canxi, tỷ lệ canxi/photpho thấp: Chế độ ăn nhiều phytat (có nhiều trong tinh bột), oxalat (có nhiều trong rau) và chất xơ cũng làm giảm hấp thu canxi.

–   Trẻ suy dinh dưỡng: Một số công trình nghiên cứu cho thấy, còi xương không xảy ra riêng lẻ mà đi kèm với suy dinh dưỡng, thiếu vitamin A, thiếu máu. Trẻ suy dinh dưỡng thường hay rối loạn hấp thu các chất, kể cả vitamin D và muối khoáng; đồng thời thiếu hụt enzym chuyển hóa vitamin D. Ngược lại, tình trạng thiếu vitamin D cũng sẽ làm giảm sức đề kháng của cơ thể, tăng cảm nhiễm với vi khuẩn, do đó tăng nguy cơ suy dinh dưỡng. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh, trẻ suy dinh dưỡng có nguy cơ còi xương cao hơn so với trẻ bình thường.

–   Trẻ có cân nặng lúc đẻ thấp (dưới 2.500g) có nguy cơ còi xương cao hơn trẻ có cân nặng lúc đẻ bình thường: Nguyên nhân là cơ thể không dự trữ đủ muối khoáng và vitamin D trong thời kỳ bào thai, đồng thời hệ thống men tham gia vào chuyển hóa vitamin D còn yếu.

–   Có hội chứng kém hấp thu: Tình trạng thiếu vitamin D dễ xảy ra ở những trẻ có hội chứng này. Các bệnh tiêu chảy kéo dài, nhiễm ký sinh trùng đường ruột, viêm gan tắc mật đều có ảnh hưởng đến hấp thu vitamin D và tăng nguy cơ còi xương.

Triệu chứng

–   Ngủ kém: Giấc ngủ ngắn, không ngon giấc, hay giật mình, dễ bị kích thích quấy khóc, hay khóc đêm…

Ngoài ra, bé còn hay ra mồ hôi trộm khi ăn, khi bú, nhất là khi ngủ.

–   Táo bón: Dễ bị táo bón hoặc đi ngoài phân sống cũng là một trong những triệu chứng của bệnh còi xương. Ở lứa tuổi lớn hơn, trẻ hay bị đau bụng nhưng chỉ đau một lúc rồi hết.

Trẻ hay kêu đau nhức xương vào chiều tối hoặc ban đêm. Tình trạng nhức xương hay gặp ở những xương dài, điển hình là xương cẳng chân.

–   Rụng tóc: Cha mẹ thường không để ý khi chỉ thấy vài sợi tóc vương trên gối. Nhưng sau đó một thời gian, tóc rụng nhiều thành mảng, có thể tròn nhẵn thín sau gáy hoặc tạo thành hình vành khăn nối từ bên tai này sang tai kia.

–   Đầu có bướu: Nếu bé bị còi xương ngay từ trong bụng mẹ thì biểu hiện dễ thấy nhất trong 3 tháng đầu sau sinh là có bướu đỉnh đầu, bướu trán (trán dô).

–   Xương biến dạng: Từ tháng 6 đến tháng 12 xuất hiện các nốt ở đầu xương sườn hoặc xương sườn bị cong gây biến dạng lồng ngực (ngực dô ức gà)g.

Sau 1 tuổi, quá trình biến dạng sẽ ảnh hưởng lên chi khi trẻ em tập đi như cong xương chi dưới (chân vòng kiếng), đầu gối vẹo ra ngoài, gù vẹo cột sống, khung chậu hẹp, chậm phát triển chiều cao.

–   Trẻ chậm mọc răng: Thông thường sẽ mọc răng ở tháng thứ 6 với bé gái và 8 tháng với bé trai.

Còi xương là một dạng bệnh lý không quá khó chữa nhưng cần được phát hiện kịp thời bởi nếu không, di chứng của nó sẽ rất nặng nề, theo trẻ đến hết cuộc đời.

Phòng bệnh

  • Trong thời gian có thai và cho con bú, người mẹ nên dành thời gian tắm nắng, đi dạo ngoài trời. Nên ăn uống hợp lý, chú ý thực phẩm giàu vitamin D, canxi để phòng tránh còi xương sớm cho trẻ từ trong bào thai và trong những tháng đầu sau đẻ.
  • Cho trẻ bú mẹ ngay sau sinh, bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu , sau đó cho ăn bổ sung. Chú ý cho ăn dầu mỡ, thực hiện tô màu bát bột. Hằng ngày phải cho trẻ tắm nắng 5-10 phút để có đủ vitamin D.
  • Bổ sung vitamin D 400 đơn vị/ngày cho trẻ đẻ non, đẻ thấp cân. Một trong những biện pháp phòng bệnh còi xương là tăng cường vitamin D vào thực phẩm cho bà mẹ và trẻ em.
    Cao xương ngựa chữa bệnh còi xương ở trẻ

    Theo Dược sĩ Đỗ Huy Bích cho biết:

    Cao Xương ngựa rất giàu muối canxi, là nguồn bổ sung chất vôi cho cơ thể; chất keratin cùng với gelatin khi thủy phân cho nhiều axit amin cần thiết giúp duy trì và phát triển tế bào. Do đó, dược liệu được dùng chữa cơ thể suy nhược ở người mới ốm dậy, người cao tuổi, phụ nữ sau khi sinh, trẻ em còi xương, xanh xao, biếng ăn. Cao còn chữa loãng xương, đau nhức gân xương, kinh nguyệt không đều, táo bón, viêm tá tràng, tiêu chảy, kiết lỵ”

    Cách dùng: Liều dùng hằng ngày: 5 – 10g cao (cho người lớn), 3 – 5g (cho trẻ em tùy tuổi). Dạng dùng thông thường là thái cao thành miếng ăn trực tiếp hoặc trộn với cháo nóng mà ăn.

    Có thể trộn cao với Mật ong (1 thìa) hấp cách thủy hoặc ngâm cao (100g) trong một lít rượu 40độ để càng lâu càng tốt, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần một chén nhỏ. Không dùng rượu Cao ngựa cho trẻ em.

    Lưu ý: Khi dùng, kiêng các chất tanh như tôm, cua, cá; chất cay (tỏi, ớt, hạt tiêu); nước chè đặc, đậu xanh, rau muống, măng.

Ý kiến của bạn

*