Thương hiệu nổi tiếng quốc gia

Bệnh tim mạch: Chế độ ăn uống, tập luyện và điều trị

Người mắc bệnh tim mạch nên ăn ít muối, các thành phần dinh dưỡng cân đối giữa tỷ lệ chất béo, chất đạm động vật, chất đạm thực vật và chất bột đường. Các món ăn nên thay đổi hằng ngày, nên ăn nhiều cá, các loại hải sản. Vì chất acide béo Omega 3 có trong các loại hải sản rất tốt cho hệ tim mạch. Sử dụng hợp lý các loại thức uống có cafein, cồn và các loại gia vị đều rất tốt cho hệ thống tim mạch. Trong đó đặc biệt nhấn mạnh vai trò của tỏi và rượu vang đỏ.

Bệnh tim mạch: Chế độ ăn uống, tập luyện và điều trịBệnh tim mạch: Chế độ ăn uống, tập luyện và điều

Chế độ ăn uống với người bệnh tim mạch

Một chế độ ăn dinh dưỡng hợp lý cho người mắc bệnh tim mạch: Nên chọn các loại thức ăn có hàm lượng mỡ, cholesterol thấp, giàu chất xơ và vitamin, hạn chế ăn các đồ ăn có nhiều đường. Nên ăn các thức ăn như rau, củ quả tươi, lương thực phụ (ngô, khoai, sắn…), ăn hoa quả là chính, thường xuyên ăn các thức ăn có nhiều chất vi lượng như canxi, kali, iod, crom, coban, magiê… bởi chúng có tác dụng hạ huyết áp, bảo vệ tim mạch, ngăn chặn các tai biến về động mạch vành. Đó là sữa, tôm, cua cá, đậu đỗ, hành tỏi, cần tây… Khi ăn nên chọn các loại dầu thực vật như: dầu ô liu, dầu đậu nành, dầu cải, dầu ngô..

Người mắc bệnh tim mạch nên uống nhiều nước

Nhiều người cho rằng uống càng nhiều nước càng tốt vì giúp lọc sạch cơ thể. Thật ra, quan niệm này không hẳn là đúng, nhất là với bệnh tim hay bệnh thận. Ðối với một người khỏe mạnh, khi uống nhiều nước, tim và thận phải tăng hoạt động để thải bớt nước ra ngoài, giữ sự cân bằng trong cơ thể. Ngược lại, ở người đã có bệnh tim hay bệnh thận, hai cơ quan này không còn hoạt động tốt nên nước sẽ bị giữ lại trong cơ thể gây triệu chứng khó thở, phù, thậm chí còn gây ra tình trạng “ngộ độc nước”, biểu hiện qua triệu chứng lơ mơ, hôn mê. Nói chung, người bị bệnh tim nên uống nước theo nhu cầu cơ thể, nghĩa là chỉ uống khi cảm thấy khát. Nếu bệnh của bạn chỉ ở mức độ nhẹ, việc hạn chế uống nước là không cần thiết. Những trường hợp suy tim nặng chỉ nên hạn chế uống khoảng 1 lít nước mỗi ngày. Nên nhớ rằng uống quá ít nước cũng rất nguy hiểm vì có thể gây tụt huyết áp, choáng váng, chóng mặt. Bác sĩ sẽ cho biết nhu cầu nước thế nào là phù hợp với mức độ bệnh của bạn.

Rượu bia, thuốc lá ảnh hưởng đến bệnh tim mạch

Y học đã chứng minh việc nghiện rượu bia có ảnh hưởng rất xấu đối với sức khỏe nói chung và bệnh tim mạch nói riêng. Nhưng đối với những người chỉ uống ít thì sao? Các nghiên cứu cho thấy uống ít hơn 60ml rượu nguyên chất (khoảng 680ml bia, 95ml rượu whiskey, 285ml rượu vang) mỗi ngày không ảnh hưởng xấu đối với bệnh tim mạch. Rượu vang đỏ còn có tác dụng tốt đối với cholesterol máu. Như vậy, người bệnh tim không cần phải kiêng cữ bia rượu tuyệt đối. Tuy nhiên cần nhắc lại điều độ luôn là nguyên tắc quan trọng nhất để giữ gìn sức khỏe. Rượu bia có thể không ảnh hưởng đến bệnh tim nhưng lại gây bệnh dạ dày, bệnh gan. Ngoài ra, có một thể bệnh tim đặc biệt gọi là bệnh cơ tim do rượu. Nếu bị bệnh này, bạn phải kiêng cữ rượu bia hoàn toàn.

Còn thuốc lá là thứ cần phải kiêng cữ tuyệt đối khi bị bệnh tim mạch. Thuốc lá ảnh hưởng rất xấu đối với các bệnh do nguyên nhân xơ vữa động mạch như thiếu máu não, thiếu máu cơ tim. Nếu không bỏ thuốc lá, bạn có thể bị tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim, suy tim…Và nhất thiết bạn phải cố gắng bằng mọi cách bỏ hút thuốc lá ngay khi biết mình bị bệnh tim mạch.

Bệnh tim mạch tập luyện thích hợp và đều đặn

Vận động luyện tập thích hợp không những có lợi cho cơ thể mà còn làm giảm thiểu tác động của các bệnh tim mạch. Tập luyện thể thao phù hợp sẽ thúc đẩy quá trình thay thế các tế bào cũ trong cơ thể, tiêu hao bớt chất béo, phòng chống béo phì, đồng thời tăng khả năng điều tiết của hệ tim mạch, ngăn chặn sự phát sinh và phát triển bệnh tim mạch. Chọn các môn thể thao phù hợp với điều kiện và sở thích như: đi bộ, chạy chậm, đạp xe, luyện khí công, thái cực quyền, bơi lội… Số lần tập từ 3 – 5 lần mỗi tuần, mỗi lần khoảng 30 phút. Lượng vận động cần phải tăng từ từ, không nên tập nặng ngay từ đầu. Bình thường khi tập luyện, nhịp tim sẽ tăng từ 110  – 120 lần/phút, không có các hiện tượng như chóng mặt, thở dốc, đau tim… Đồng thời sau khi ngừng tập luyện 5 – 10 phút, nhịp tim sẽ trở lại bình thường như trước khi vận động là cách luyện tập có hiệu quả nhất. Tập luyện nơi có ánh sáng mặt trời, không nên tập vào buổi sáng sớm quá lạnh, ẩm thấp và có nhiều sương mù. Không nên tập lúc no hoặc đói vì sẽ gây ra những hậu quả khôn lường. Nhiều người do không chịu được cường độ luyện tập, lượng máu lên não không đủ, gây ra hiện tượng đột quỵ, nhồi máu cơ tim cấp rất nguy hiểm.

Chú ý: Nếu trong lúc tập luyện thấy có hiện tượng của bệnh tim mạch như chóng mặt, tức ngực, thở dốc, buồn nôn, ra mồ hôi nhiều thì cần nghỉ ngơi tại chỗ, đồng thời ngậm dưới lưỡi viên nitroglycerin mà người bệnh tim luôn phải nhớ mang theo người. Sau đó nên đến bác sĩ tim mạch khám để tìm nguyên nhân và điều trị, nếu muốn tập luyện tiếp phải hỏi ý kiến bác sĩ.

Điều trị bệnh tim mạch với bài thuốc đan sâm

Đan sâm có tác dụng chữa trị sự rối loạn tuần hoàn tim và não. Loại thảo dược này còn hiệu nghiệm trong điều trị chứng hồi hộp, đau nhói và thắt ngực, mất ngủ, vàng da và có tác dụng an thai. Giảm rối loạn tuần hoàn vi mạch, làm giãn các động mạch và tĩnh mạch nhỏ, mao mạch, tăng tuần hoàn vi mạch. Giảm mức độ nhồi máu cơ tim.   Chống oxy hóa, loại bỏ các gốc tự do có hại cho cơ thể. Đặc biệt Đan Sâm dùng làm thuốc điều trị bệnh tim mạch rất tốt.

Chữa đau tức ngực, đau nhói vùng tim

  • Đan sâm 32 g, xuyên khung, trầm hương, uất kim, mỗi vị 20 g. Hồng hoa 16 g, xích thược, hương phụ chế, hẹ, qua lâu, mỗi vị 12 g. Đương quy vĩ 10 g. Sắc uống ngày một thang.
  • Đan sâm 32 g, xích thược, xuyên khung, hoàng kỳ, hồng hoa, uất kim, mỗi vị 20 g. Đảng sâm, toàn đương quy, trầm hương, mỗi vị 16g. Mạch môn, hương phụ, mỗi vị 12 g. Sắc uống ngày một thang.

Chữa suy tim

  • Đan sâm 16 g, đảng sâm 20 g, bạch truật, ý dĩ, xuyên khung, ngưu tất, trạch tả, mã đề, mộc thông, mỗi vị 16 g. Sắc uống ngày một thang.
  • Đan sâm, bạch truật, bạch thược, mỗi vị 16 g. Thục linh, đương quy, mã đề, mỗi vị 12 g. Cam thảo, can khương, nhục quế, mỗi vị 6 g. Sắc uống ngày một thang.
  • Chữa tim hồi hộp, chóng mặt, nhức đầu, hoa mắt, ù tai: đan sâm, sa sâm, thiên môn, mạch môn, thục địa, long nhãn, đảng sâm, mỗi vị 12 g. Toan táo nhân, viễn chí, bá tử nhân, mỗi vị 8 g. Ngũ vị tử 6 g. Sắc uống ngày một thang.

Chữa viêm tắc động mạch chi

  • Đan sâm, hoàng kỳ, mỗi vị 20 g. Đương quy vĩ 16 g, xích thược, quế chi, bạch chỉ, nghệ, nhũ hương, một dược, hồng hoa, đào nhân, tô mộc, mỗi vị 12 g. Sắc uống ngày một thang.
  • Đan sâm, huyền sâm, kim ngân hoa, bồ công anh, mỗi vị 20 g, sinh địa, đương quy, hoàng kỳ, mỗi vị 16 g. Hồng hoa, diên hồ sách, mỗi vị 12 g. Nhũ hương, một dược, mỗi vị 8 g. Cam thảo 4 g. Sắc uống ngày một thang.

Chữa thần kinh suy nhược, nhức đầu, mất ngủ

  • Đan sâm, bạch thược, đại táo, hạt muồng sao, mạch môn, ngưu tất, huyền sâm, mỗi vị 16 g. Dành dành, toan táo nhân, mỗi vị 8 g. Sắc uống ngày một thang.
  • Đan sâm, liên tâm, táo nhân sao, quả trắc bá, mỗi vị 8 g, viễn chí 4 g. Sắc uống ngày một thang.

Chữa viêm khớp cấp kèm theo tổn thương ở tim

  • Đan sâm, kim ngân hoa, mỗi vị 20 g, đảng sâm, hoàng kỳ, bạch truật, mỗi vị 16 g. Đương quy, long nhãn, liên kiều, hoàng cầm, hoàng bá, mỗi vị 12 g. Táo nhân, phục linh, mỗi vị 8 g. Mộc hương, viễn chí, mỗi vị 6 g. Sắc uống ngày một thang.
  • Khi có loạn nhịp: Đan sâm 16 g, sinh địa, kim ngân, mỗi vị 20 g. Đảng sâm 16 g, chích cam thảo, a giao, mạch môn, hạt vừng, đại táo, liên kiều, mỗi vị 12 g. Quế chi 6 g, gừng sống 4 g. Sắc uống ngày một thang.

Sưu tầm

Ý kiến của bạn

*