Thương hiệu nổi tiếng quốc gia

Tài liệu tham khảo.

Nguyên nhân của các bệnh cơ xương khớp :

Có thể nói bệnh đau nhức xương khớp hiện nay xẩy ra tương đối phổ biến và có xu hướng gia tăng. Bệnh thường gặp khi bước vào tuổi trung niên và tăng nặng khi bước vào tuổi già, gây ra những khó khăn khi tuổi cao như : Đau nhức thường xuyên khi thời tiết thay đổi, vận động khó khăn, kém ăn, mất ngủ, …

Có nhiều nguyên nhân có thể giải thích được sự gia tăng đến chóng mặt các bệnh về xương khớp. Đầu tiên đó là sự lão hóa của cơ thể, môi trường ngày càng bị ôi nhiễm, lao động nặng nhọc, thời tiết thay đổi thường xuyên, kinh tế lạc hậu, nhận thức của người dân còn hạn chế trong việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe.

Kết quả là có một số bệnh về xương khớp như : Thoái hóa khớp, loãng xương, đau cột sống thắt lưng, gút ( thống phong ),.. xẩy ra và gây ra những hậu quả nặng nề khi tuổi về già .

Triệu chứng  của bệnh :

Các bệnh về cơ xương khớp thường thấy nhiều nhất ở các khớp chịu sức nặng cơ thể : Xương sống cổ, lưng hông, đầu gối, rồi cuối ngón chân, ngón tay cái.

Biểu hiện:

Khớp đau, sưng, giảm cử động, co cứng là những dấu hiệu thường thấy.

Có thể bị những cơn đau bất thình lình hoặc khi thay đổi thời tiết, khí hậu lạnh, ẩm, đặc biệt là ở khớp đầu gối, khớp ngón chân, ngón tay cái.

Khớp đau âm ỉ hoặc dữ dội làm ảnh hưởng đến sinh hoạt lao động, mất ngủ,… gây ra tâm trạng u buồn.

Sau một thời gian, các triệu chứng trên dẫn tới hậu quả là làm mất chức năng của khớp, khiến người bệnh không thực hiện được những sinh hoạt thông thường như: Đứng lên ngồi xuống, lên xuống cầu thang, tập thể thao, mang nặng một chút đều khó khăn , hạn chế.

Biện pháp điều trị :

Các bệnh về cơ xương khớp chủ yếu là do quá trình lão hoá khớp. Do vậy, việc điều trị dứt điểm bệnh gặp rất nhiều khó khăn, đòi hỏi kiên trì thời gian dài. Có nhiều phương pháp có thể kết hợp nhằm mục đích làm chậm quá trình lão hoá của khớp và điều trị : Vật lý trị liệu, vận động, Giảm mập béo, dùng dược phẩm.

Các loại thuốc tân dược được dùng với mục đích làm : Giảm đau, chống viêm sưng. Không làm thay đổi được diễn tiến của bệnh cũng như ngăn ngừa sự thoái hoá khớp. Mặt khác lại có nhiều tác dụng phụ không tốt cho sức khoẻ.

Hiện nay, các Bài thuốc nam từ thảo dược, gia truyền của các dân tộc có thể phòng ngừa các bệnh về cơ xương khớp, phục hồi lại các chức năng của khớp, làm chậm quá trình lão hoá của xương khớp rất hiệu quả, với những ưu điểm vượt trội là không có tác dụng phụ và người bệnh có thể sử dụng thường xuyên hàng ngày. Giải pháp an toàn hiệu quả từ Thảo dược Tây Nguyên

BỆNH LOÃNG XƯƠNG

PTS. BS LÊ ANH THƯ

Bệnh viện Chợ Rẫy

Bệnh loãng xương được ví như những tên ăn cắp vặt, mỗi ngày một chút, chúng lấy dần các khoáng chất quý báu trong ngân hàng xương của mỗi chúng ta. Lúc đầu thường không có biểu hiện gì, nhưng khi có các dấu hiệu rõ ràng, khối lượng xương thường đã mất tới trên 1/3 (35%). Hậu quả gãy xương do loãng xương thường khá nặng nề với sức khỏe người có tuổi vì xương đã bị loãng rất lâu liền, người bệnh phải nằm lâu ngày nên rất dễ bị bội nhiễm (viêm phổi, viêm đường tiết niệu, loét mục…).

CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ CỦA BỆNH LOÃNG XƯƠNG

1. Kém phát triển thể chất từ khi còn nhỏ, đặc biệt là còi xương, suy dinh dưỡng, chế độ ăn thiếu protid, thiếu calci hoặc tỷ lệ calci/phospho trong chế độ ăn không hợp lý, thiếu vitamin D hoặc cơ thể không hấp thu được vitamin D… làm bộ xương không đạt được khối lượng khoáng chất đỉnh ở tuổi trưởng thành.

2. Ít hoạt động thể lực (hoạt động thể lực thường xuyên sẽ giúp cho cơ thể đạt được khối lượng xương cao nhất lúc trưởng thành), ít hoạt động ngoài trời (tiền chất của vitamin D không trở thành vitamin D nên ảnh hưởng tới việc hấp thu calci).

3. Sinh đẻ nhiều lần, nuôi con bằng sữa mẹ mà không ăn uống đủ chất đặc biệt là protid và calci, để bù đắp lại.

4. Bị các bệnh đường tiêu hóa (dạ dày, ruột…) làm hạn chế hấp thu calci, vitamin D, protid…

5. Có thói quen: uống nhiều rượu, bia, cà phê, hút nhiều thuốc lá… làm tăng thải calci qua đường thận, giảm hấp thu calci ở đường tiêu hóa…

BIỂU HIỆN CỦA BỆNH LOÃNG XƯƠNG

Bệnh này được ví như những tên trộm vặt, mỗi ngày một chút, chúng lấy dần các khoáng chất của bộ xương. Lúc đầu người bệnh không cảm thấy khó chịu vì bệnh diễn biến thầm lặng, không có dấu hiệu nào rõ ràng, có chăng chỉ là một vài triệu chứng đau, nhức, mỏi không cố định, có khi rất mơ hồ, vu vơ ở cột sống lưng, ở dọc các chi, ở các đầu xương… Càng về sau, khi khối lượng khoáng chất bị mất ngày càng nhiều, các triệu chứng đau nhức nêu trên sẽ rõ ràng dần lên, tập trung nhiều hơn ở các vùng xương chịu lực của cơ thể như hông, thắt lưng, khớp gối. Loãng xương rất thường đi kèm với bệnh thoái hóa khớp, cũng là bệnh thường gặp ở người có tuổi. Tình trạng loãng xương sẽ làm cho quá trình thoái hóa nặng thêm, và quá trình này cũng làm bệnh loãng xương nặng nề thêm.

CÁC TRIỆU CHỨNG THƯỜNG GÂP CỦA BỆNH LOÃNG XƯƠNG

1. Đau xương: Đau nhức các đầu xương.

Đau nhức, mỏi dọc các xương dài.

Đau nhức như châm chích toàn thân.

Đau tăng về đêm, nghỉ ngơi không hết.

2. Đau cột sống, đau như thắt ngang cột sống hoặc lan sang một hoặc hai bên mạn sườn do kích thích các rễ thần kinh liên sườn. Đau cột sống thường kèm theo co cứng các cơ dọc cột sống gây đau, giật cơ khi thay đổi tư thế. Lúc nằm yên, người bệnh thường thấy dễ chịu hơn.

3. Gù vẹo cột sống, giảm chiều cao so với lúc trẻ (do các đốt sống bị lún, xẹp hoặc bị gãy lún).

4. Các triệu chứng toàn thân thường gặp là luôn có cảm giác lạnh hoặc ớn lạnh, hay bị chuột rút (vọp bẻ), thường ra mồ hôi.

5. Thường có kèm theo các bệnh của người có tuổi như: béo bệu, cao huyết áp, bệnh mạch vành, tiểu đường, thoái hóa khớp…

Khi đã có các triệu chứng lâm sàng rõ ràng nêu trên, khối lượng xương của cơ thể thường đã giảm  30%. Lúc này trên phim X quang thường có thể thấy rõ hiện tượng loãng xương như: Xương tăng thấu quang.

Vỏ xương bị mỏng đi.

Các đốt sống bị biến dạng: lún xẹp hoặc gãy lún.

CHẪN ĐOÁN BỆNH LOÃNG XƯƠNG CÓ KHÓ KHÔNG?

Việc chẩn đoán thường không gặp khó khăn khi đã có hiện tượng loãng xương rõ, lúc này dựa vào:

 Tuổi tác, giới tính.

 Các đặc điểm và thói quen sinh hoạt.

 Các phim X quang hệ thống xương (đặc biệt là cột sống).

 Tỷ trọng khoáng chất của xương (BMD) và khối lượng của bộ xương (BMC) bằng phương pháp quét và đo độ hấp thu proton của bộ xương – DEXA để đánh giá mức độ loãng xương.

 Chụp cắt lớp (CT scan) hoặc cộng hưởng từ (MRI) để đánh giá mức độ loãng xương.

LÀM THẾ NÀO ĐỂ PHÁT HIỆN SỚM BỆNH LOÃNG XƯƠNG?

 Khi loãng xương còn nhẹ hay mới bị, việc chẩn đoán hoàn toàn dựa vào việc tìm hiểu, đánh giá kỹ các yếu tố nguy cơ và đo tỷ trọng khoáng chất (BMD), khối lượng xương (BMC). Các phương pháp này có thể đánh giá mức độ loãng xương và dự báo khả năng gãy xương của người bệnh.

 Ngay khi còn trẻ (độ tuổi 25-35), có thể đo tỷ trọng khoáng chất đỉnh của bộ xương (OPBMD) lúc trưởng thành. Tỷ trọng khoáng chất đỉnh thấp là một trong những yếu tố nguy cơ quan trọng của bệnh loãng xương sau này.

HẬU QUẢ CỦA BỆNH LOÃNG XƯƠNG

Gãy xương khi bị những chấn thương nhẹ là hậu quả cuối cùng của bệnh loãng xương. Gãy xương do loãng xương thường gặp ở các vị trí chịu lực của cơ thể như cột sống, thắt lưng và cổ xương đùi. Với người có tuổi thường có nhiều bệnh lý của tuổi tác đi kèm như tim mạch, huyết áp, tiểu đường… và đặc biệt với tình trạng loãng xương nặng saün có (thiếu chất khoáng và protein của xương) thì việc liền xương thường rất khó khăn, đa số người bệnh phải nằm tại chỗ nhiều ngày, thậm chí phải nằm điều trị dài ngày trong bệnh viện. Việc nằm tại chỗ dài ngày khi gãy xương không những làm tình trạng loãng xương càng nặng lên mà còn kéo theo nhiều nguy cơ rất bất lợi cho sức khỏe người có tuổi như bội nhiễm đường hô hấp, đường tiết niệu, loét mục ở các điểm tỳ đè… Đây cũng là một nguyên nhân chính gây tàn phế và giảm tuổi thọ cho người có tuổi (theo thống kê, ở các nước phát triển có đến 20% người có tuổi bị gãy cổ xương đùi sẽ tử vong trong vòng 6 tháng đầu vì các biến chứng do nằm lâu nêu trên).

Viêm Xương Khớp

Nắng mưa là chuyện của trời

Đau xương, nhức khớp, chuyện người tuổi cao”

Ở người cao tuổi,Viêm Xương Khớp là loại bệnh rất thường thấy nhất là mỗi khi thời tiết đổi thay. Các cụ thường thấy đau ở những khớp gần đầu ngón tay, xương sống, đầu gối, hông và cổ tay, do sự thoái hóa của xương và sụn. Lão nhân nam nữ đều có thể mắc bệnh như nhau. Đôi khi, nhiều vị cao tuổi bị viêm khớp mà không biết cho tới khi tình cờ chụp phim quang tuyến thì thấy đã có bệnh từ mấy thập niên.

Ta cần phân biệt bệnh Viêm Xương Khớp ( Osteoarthritis) với bệnh Khớp Viêm Phong Thấp (Rheumatoid Arthritis ).

Bệnh sau này có ở bất cứ tuổi nào, thường gây tổn thương cho nhiều khớp, nhất là ở đốt cuối ngón tay, ngón chân, cổ tay, đầu gối. Đôi khi bệnh lan tới các cơ quan nội tạng như tim, thận, phổi, giây thần kinh và gây ra những triệu chứng tổng quát như nóng sốt, mệt mỏi, biếng ăn, thiếu hồng huyết cầu, sụt cân cơ thể.

Cấu tạo khớp
Mỗi khớp có nhiều thành phần như bắp thịt, dây chằng, sụn, xương, gân . Tất cả hoạt động nhịp nhàng với nhau để giúp cơ thể thực hiện một chức năng rất quan trọng, đó là sự di chuyển của con người.

Dây chằng có nhiệm vụ neo xương với xương, giữ cho khớp được vững;

Gân nối xương với thịt và chuyển sức co của bắp thịt vào xương;

Sụn là lớp tế bào trong như thạch, rất bền dai, có thể ép và đàn hồi, không có mạch máu-giây thần kinh. Sụn có công dụng che trở đầu xương như lớp đệm tránh sự mài xát khi khớp cử động. Quan trọng như vậy mà sụn lại là những tế bào rất mỏng manh, khó nuôi cấy, dễ thoái hóa mà sự tái tạo sau khi chấn thương rất khó khăn.

Sụn chứa 75% nước. Khi khớp cử động, nước đó ra vào, thấm qua màng hoạt dịch để lấy chất bổ dưỡng nuôi sụn. Cho nên sụn sẽ bị suy yếu khi khớp bất động, không được dùng tới. Vì không có dây thần kinh nên sụn không có trách nhiệm gây đau trong bệnh viêm khớp.

Khớp nằm trong một cái túi mà tế bào mặt trong túi tiết ra một hoạt dịch lỏng nhờn như dầu để làm khớp trơn tru trườn lên nhau khi co ruổi, cử động. Hoạt dịch cũng là nguồn cung cấp chất bổ dưỡng cho sụn vì sụn không có mạch máu.

Sự thoái hóa của khớp
Với tuổi đời chồng chất, chức năng cũng như cấu tạo của khớp đều có nhiều thay đổi, trở nên kém linh động.

Tế bào khớp thoái hóa. Gân và dây chằng phân đoạn, đóng vôi, khô cằn, trở nên kém bền bỉ, kém co giãn, không chịu đựng được với căng lực và dễ bị tổn thương. Sụn trở nên đục mầu, hóa xơ, khô nước, rạn nứt với nhiều tinh thể calcium làm khớp đau. Khớp co duỗi khó khăn vì màng hoạt dịch mỏng và khô dần.

Khi bị viêm, xương khớp có nhiều thay đổi như sự hóa xơ và gồ ghề của sụn, khả năng chất đệm kém đi, đầu xương cọ vào nhau rồi mọc gai gây đau, xương giảm khối lượng.

Mặc dù ta không biết rõ cơ chế gây ra viêm, nhưng sự hao mòn tả tơi hay thoái hóa do sử dụng khớp lâu năm được coi như là nguyên nhân chính. Vì thế những khớp chịu sức nặng của cơ thể như xương thắt lưng, hông, đầu gối thường hay bị bệnh. Sự thoái hóa này diễn ra từ từ trong khoảng thời gian khá lâu và trở nên rõ ràng khi về già.

Tuy thường xẩy ra ở người cao tuổi nhưng không phải người cao tuổi nào cũng mắc phải bệnh viêm này. Thanh thiếu niên được miễn; tuổi trung niên có nhưng rất hiếm; từ tuổi 50 trở lên thì bệnh tăng theo tuổi: 27% ở tuổi 60- 70; 45% vào tuổi 80.

Nguy cơ dễ bị bệnh gồm có béo mập, chấn thương khớp, tật bẩm sinh, bệnh về chuyển hóa, di truyền, xáo trộn của kích thích tố. Lúc trẻ tuổi, một lực sĩ liên tục bị chấn thương, dù nhẹ, ở khớp hoặc một người làm việc chân tay suốt ngày khuân vác nặng nhọc đều dễ bị viêm khớp khi tuổi cao.

Cũng xin nhắc qua về hiện tượng VIÊM (Inflammation).

Viêm là một đáp ứng bảo vệ của cơ thể với tổn thương gây ra do tác nhân sinh nhiễm, hóa chất hoặc tác nhân vật lý. Các mạch máu ở gần nơi tổn thương giãn nở, đưa nhiều máu tới vùng này. Bạch cầu vào mô tiết ra chất prostaglandins, leucotriene và tiêu diệt các tác nhân gây bệnh. Trong diễn biến này, vùng mô bị tổn thương sưng to, nóng, đỏ và đau. Nếu viêm không được chữa lành thì sẽ trở nên viêm kinh niên.

Triệu chứng.

Viêm xương khớp thường thấy nhiều nhất ở các khớp chịu sức nặng cơ thể: xương sống cổ, lưng, hông, đầu gối, rồi cuối ngón chân tay cái. Khớp đau, sưng, giảm cử động, co cứng là những dấu hiệu thường thấy.

Khớp cứng đờ mỗi sáng khi thức dậy hoặc sau một thời gian bất động và kéo dài cả nửa giờ đồng hồ. Nhưng khi ta ngâm tay trong nước ấm hay tập co tới co lui một lúc thì nó bớt cứng đi. Những thay đổi khác ở khớp như viêm màng dịch, viêm dây chằng, tiêu hao của sụn, co gián bắp thịt đều có thể gây đau.

Người cao tuổi mắc bệnh viêm khớp có thể bị những cơn đau bất thình lình hoặc khi thời tiết đổi thay, khí hậu lạnh, ẩm, đặc biệt là ở khớp đầu gối. Khớp đau âm ỉ, vừa phải thôi, nhưng gia tăng khi khớp cử động, giảm bớt khi không dùng. Ban đêm ngủ mà bị những cơn đau khớp hành hạ thì bệnh càng gia tăng mà lại dễ gây ra tâm trạng u buồn.

Sau một thời gian, các triệu chứng trên đưa tới mất chức năng của khớp, khiến người bệnh không thực hiện được những sinh hoạt thông thường như cài cúc áo, cột dây giầy, cầm lược chải đầu, cầm bút viết. Đứng lên ngồi xuống, bước ra khỏi xe, lên xuống cầu thang đều khó khăn, giới hạn.

Nhiều nghiên cứu cho hay có tới 12% người bệnh không hoàn tất được sinh hoạt hàng ngày và quá bán số người này nằm liệt giường hay suốt ngày ngồi trên xe lăn.

Quan sát cho thấy đàn ông thường bị giới hạn sử dụng thượng chi còn đàn bà hay bị ở hạ chi, nhưng khi tới tuổi trên 80 thì tứ chi đều bị ảnh hưởng như nhau.

Định bệnh căn cứ vào triệu chứng, khám xét cơ thể và chụp quang tuyến X.

Viêm khớp khó mà lành hẳn nhưng sau một năm, chứng đau nhức thường giảm bớt. Sự thoái hóa làm mòn hết sụn, hai đầu xương tiếp tục cọ xát vào nhau trở nên nhẵn bóng như ngà.

Điều trị

Cho tới nay, chưa có dược phẩm hay phương thức nào có thể phục hồi tế bào sụn và từ đó chữa dứt viêm xương khớp.

Tuy nhiên áp dụng đúng các phương thức hiện hữu có thể giảm đau và viêm, duy trì chức năng và cử động của khớp, ngăn ngừa khớp biến dạng và nâng cao đời sống. Nhưng điều trị phải tùy theo hiện trạng, nhu cầu mỗi cá nhân.

Ngoài ra người bệnh cần được hương dẫn, tìm hiểu về bệnh, biết rõ căn nguyên, nguy cơ gây bệnh để tránh, biết phải làm gì để bớt đau và thích nghi với khó khăn, khiếm dụng do bệnh gây ra.

1-Vật lý trị liệu

Đây là phương tiện được dùng rất nhiều hiện nay vì có công hiệu khá cao. Nó giúp bệnh nhân phục hồi một số chức năng của bắp thịt và khớp như khả năng co duỗi, sự di động, mềm mại; hướng đẫn cách lựa và sử dụng gậy chống, nạng tựa người( Walker).

2-Vận động.

Sự vận động cơ thể làm tăng sự mềm mại của cơ thịt, co vào ruổi ra dễ dàng, khớp cử động nhẹ nhàng, tăng máu lưu thông tới nuôi dưỡng khớp, làm bớt đau, làm tầm cử động rộng hơn. Cần lưu ý là chỉ vận động vừa sức mình; không vận động khi khớp sưng- nóng- đau.

Trước khi tập, có thể đắp nóng để làm thư giãn cơ thịt, làm máu lưu thông tốt, hoặc lạnh trên khớp để làm bớt đau, sưng và viêm đỏ. Đôi khi ta có thể luân phiên với sức lạnh và sức nóng, mỗi thứ chừng dăm phút.

3- Giảm mập béo.

Mập béo vẫn được coi như là nguy cơ gây viêm xương khớp. Giảm ký là một cách tốt để làm cơ thể nhẹ nhàng, bớt sức nặng dồn trên khớp nhất là khi ta di chuyển.

4- Dược phẩm

Các dược phẩm hiện đang dùng để chữa viêm xương khớp không làm thay đổi diễn tiến bệnh cũng như ngăn ngừa sự thoái hóa khớp.Dược phẩm được dùng với mục đích chính là để làm giảm đau, chống viêm sưng và khi cần nên uống loại nhẹ nhất trước.
Thuốc có chất á phiện chỉ nên dùng ngắn hạn khi cơn đau dữ dội không chịu nổi hoặc làm mất ngủ.
Có nhiều loại thuốc bôi làm dịu đau như kem bôi capsaicin , methyl salicylate mỗi ngày thoa đều trên khớp đau ba bốn lần .
Các thuốc chống đau đều có nhiều tác dụng phụ. Vì vậy trước khi dùng, cần tham khảo ý kiến bác sĩ gia đình.
Trường hợp nặng có thể giải phẫu thay khớp.
5-Dinh Dưỡng với Viêm Xương Khớp.
Trong những năm gần đây, nhiều chuyên gia đã nghĩ ra và đề nghị áp dụng dinh dưỡng trong việc chữa bệnh Viêm Xương Khớp.Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào xác định là một chế độ ăn uống hoặc một món thực phẩm nào đó có thể trị được bệnh viêm khớp này.
Có một số ý kiến cho rằng nếu ta ăn vài trăm gram cá mỗi ngày thì có thể giảm cứng khớp mỗi sáng khi thức dậy.
Có người cũng đã thử nghiệm và thấy cà chua, broccoli cũng làm bớt đau viêm khớp.

*Ngoài ra, theo kinh nghiệm nhiều người thì Gừng, khoáng Borom, chất DMSO Dimethyl Sulfoxide từ quả Gỗ Cơm (pulp) cũng có công dụng ngăn ngừa viêm của xương khớp.

Kết luận.
Viêm xương khớp kinh niên đưa tới nhiều trở ngại, khó khăn cho người bệnh. Ngoài thuốc men và các phương thức trị liệu khác, bệnh nhân cũng nên khéo léo tổ chức trong sinh hoạt hàng ngày để tránh khớp đau nhiều hơn. Chẳng hạn như:
-Khi làm việc, khi ăn, nên ngồi nhiều hơn là đứng.
-Ghế ngồi có chỗ dựa lưng để giảm căng thẳng cho bắp thịt ở lưng.
-Ghế có dựa tay để giúp đứng lên ngồi xuống dễ dàng.
-Mở hộp thức ăn với dụng cụ thay vì dùng sức mạnh của bàn tay.
-Đừng cầm vật gì nặng quá lâu.
-Nên thường xuyên co duỗi các khớp xương, vươn vai để cột sống khỏi cứng nhắc.
-Cần nâng một vật nặng, nên xử dụng cả hai tay thay vì một tay và chịu sức nặng vào hai chân chứ không vào xương sống lưng.

Làm được như vậy là ta đã một phần nào tránh được sự mất khả năng di động. Mà không tự di động là một trong những nguyên nhân đưa tới lệ thuộc vào người khác của tuổi già cũng như của bệnh Viêm Xương Khớp trầm trọng.

Bác sĩ Nguyễn Ý-ĐỨC
Texas-Hoa Kỳ

Ý kiến của bạn

*